Giải đáp các thắc mắc về tổng đài IP dành cho doanh nghiệp

Ngày nay, xu hướng sử dụng tổng đài ip trong các doanh nghiệp đang trở cần thiết nhất để tiết kiệm chi phí cũng như giải pháp chăm sóc khách hàng được tốt nhất. Trong bài viết này sẽ giúp khách hàng giải đáp các thắc mắc về tổng đài IP

Một tổng đài IP PBX thiết lập qua giao diện web, không cần phải cài đặt bất cứ 1 phần mềm phức tạp nào để vận hành. Bất cứ người nào có hiểu biết về máy tính và Windows đều có thể cài đặt và cấu hình hệ thống PBX. Một hệ thống điện thoại truyền thống thường cần có nhân viên cài đặt được huấn luyện về chính hệ thống đó!
– PABX hay có tên PBX -> là một tổng đài nội bộ
– IP PBX hay VoIP PBX -> là tổng đài IP
– IP Telephony -> thuật ngữ mà bạn nói giống như một điện thoại có support IE sử dụng công nghệ VoIP.

1. Định nghĩa:

Tổng đài IP (tiếng Anh là IP PBX) là một thành phần trong giải pháp/hệ thống IP Telephony. Để triển khai IP Telephony bạn cần có tổng đài IP, điện thoại IP, ATA, Gateway các loại, đường truyền (leased line, internet, LAN, WAN,…). Một số tính năng được tích hợp trên tổng đài IP hoặc có thể nằm trên các server khác nhau. Ví dụ một tổng đài IP có thể bao gồm SIP/H323 server, SIP/H323 proxy, IVR server, Recording server, Gateway (FXS, FXO, E1 Port),… Các thành phần này cũng có thể được các hãng bán rời từng thiết bị, gói phần mềm.

2. Các thành phần chức năng của IP-PBX

IP PBX thường có các khối chức năng sau:

2.1. Call Server / Communication Server / Call Manager…

Tùy theo sản phẩm của các hãng mà có tên khác nhau. Thành phần này đóng vai trò trung tâm điều khiển toàn bộ hệ thống, xử lý cuộc gọi, là thiết bị có chức năng báo hiệu và định tuyến cuộc gọi. Ví dụ như gọi từ số máy 123 đến số máy 456 thì như thế nào

2.2. Media Gateway:

Gateway là thiết bị chuyển đổi giữa 2 môi trường. Bạn dùng gateway để chuyển đổi giữa tín hiệu thoại analog thành các gói tin truyền trên mạng.,… Chứa các card giao tiếp với public network hoặc card thuê bao. Đối với các thuê bao là analog hoặc digital thì các card thuê bao sẽ là các loại card tương ứng. Đối với trường hợp subscriber là IP thì MG có thể chứa các DSP. Card giao tiếp với public network thì có thể là card analog trunk, hoặc các card E1/T1. Khi số lượng đường trung kế nhiều, người ta ko sử dụng các card analog trunk mà sử dụng các card E1/T1 để tiết kiệm slot trên tổng đài, tiết kiệm số line được kéo từ tổng đài bưu điện đến PBX.

GW chính là giao tiếp với PSTN, tổng đài IP hay còn được coi như một media server làm các nhiệm vụ call processing, media processing. Nếu dùng Cisco, có thể dùng 2800. Lúc này, Cisco 2800 chỉ làm chức năng gateway, tức là bạn kết nối điện thoại analog vào port FXS, sau đó router này sẽ làm nhiệm vụ chuyển tín hiệu thoại analog thành các gói tin và ngược lại. Trong một số trường hợp gọi đơn giản như gọi trực tiếp giữa 2 gateway với nhau thì bạn không cần tổng đài. Trong trường hợp cần định tuyến cuộc gọi phức tạp thì bạn phải sử dụng tổng đài (ví dụ như dùng Cisco Call Manager, Asterisk).

Ở hệ thống IP-PABX như của Avaya các media gateway giao tiếp với PSTN, các media gateway này connect với media server hoặc connect với các media gateway khác (tùy theo topo lớn hay nhỏ). Các media gw này thực chất là các stackable and modular hardware, bạn có thể cắm thêm vào các module phục vụ cho E1, analog, annoucement…

IP-PABX như Asterisk chẳng hạn sẽ giao tiếp với PSTN qua các card (1,2,4..port E1/T1 or FXO/FXS) nên trên lý thuyết chỉ cần main đủ khe PCI là có thể mở rộng thoải mái. Hệ thống Asterisk do đó có thể gọi điện, voice Mail, voice conference, Video Conference. Tổng đài Asterisk có thể giao tiếp Card PCI hoặc gateway để gọi PSTN. Các thiết bị để gọi là IP phone, ATA, Softphone X-lite đều đã thử nghiệm và chạy rất tốt.

Việc sử dụng Card PCI để giao tiếp PSTN thì cũng có một vài nhược điểm như : số lượng có hạn khe cắm PCI (nếu bạn dùng máy tính PC thông thường là tổng đài thì sử dụng khoảng 6 line trở lại thôi), nếu công ty có nhiều chi nhánh thì nên sài GAteway có port FXO để gọi PSTN, dùng Gateway sẽ không phụ thuộc vào vị trí của tổng đài và có thể ứng dụng việc ” gọi liên tỉnh PSTN nhưng trả cước PSTN nội hạt “.

2.3. Signaling: Module báo hiệu.

Thường thì module này quản lý báo hiệu dùng các giao thức như H.323, SIP…Có hãng thiết kế các module trên riêng thành từng phần nhưng cũng có hãng tích hợp tất cả lại với nhau. Về kết nối trung kế, thì như đã nói gateway có thể được tách riêng khỏi tổng đài hoặc tích hợp trên tổng đài. Trong trường hợp bạn dùng nhiều trung kế thì thông thường sử dụng gateway riêng. Các gateway này hỗ trợ các cổng E1 (bằng 30 kênh thoại), hoặc các line FXO (CO line). Số lượng lớn thì gắn thêm card trên gateway hoặc dùng nhiều gateway. Khi này các gateway kết nối đến tổng đài IP qua các trung kế IP.

Đối với thiết bị Cisco, khi số lượng trung kế ko nhiều (chẳng hạn dưới 8 đường) thì người ta hay dùng card FXO cắm trên router. Trong trường hợp nhiều hơn, có thể dùng AS5xxx nhưng không khả thi vì tốn kém và ko hiệu quả. Thêm vào đó, Cisco ko phải là hãng chuyên về tổng đài, đặc biệt là TDM PBX. Với các hãng khác thì cần thêm trung kế thì cắm card trunk, cần thêm TDM subscriber thì cắm thêm các card subscriber và thêm MG.

Tuy nhiên, số lượng đường trunk cần phải được tính toán một cách chi tiết để tránh lãng phí và khả năng xảy ra nghẽn mạng là thấp nhất. Có thể sử dụng các công thức Erlang để tính số trung kế tuy nhiên công thức này khá rắc rối và phức tạp. Để ước lượng một cách tương đối, có thể sử dụng một vài tỉ lệ như 1 trunk: 3, 5, 7 thuê bao. Càng nhiều thuê bao trên 1 đường trunk thì khả năng nghẽn của hệ thống càng cao. Chẳng hạn 200 đường trunk thì có thể phục vụ cho 600 thuê bao hoặc nhiều hơn (với tỉ lệ 1:3).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Help
PhoneMessengerZaloleftMessage